Tội Lạm Dụng Tín Nhiệm Chiếm Đoạt Tài Sản

Luật sư Nguyễn Thị Duyên
0979 18 28 78
Tìm Hiểu Tội Lạm Dụng Tín Nhiệm Chiếm Đoạt Tài Sản Theo Pháp Luật Việt Nam
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là loại tội phạm nguy hiểm và phổ biến trong xã hội. Trong bài viết này, ldlawyer sẽ làm rõ quy định của pháp luật về loại tội phạm này.
Tội Lạm Dụng Tín Nhiệm Chiếm Đoạt Tài Sản  LDLAWYER

TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN:

Dấu hiệu nhận biết và mức hình phạt theo quy định pháp luật

Trong các giao dịch dân sự, kinh doanh và vay mượn tài sản, không ít trường hợp một bên nhận tài sản hợp pháp thông qua các hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hình thức giao dịch khác nhưng sau đó có hành vi chiếm đoạt tài sản.

Tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và các dấu hiệu cấu thành tội phạm, hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Vậy tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định như thế nào? Những dấu hiệu để phân biệt hành vi phạm tội với tranh chấp dân sự thông thường? Người thực hiện hành vi có thể phải chịu mức hình phạt ra sao? Bài viết dưới đây Luật Lưu Danh sẽ phân tích các quy định pháp luật liên quan.

1. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là gì?

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi người phạm tội nhận được tài sản của người khác thông qua việc vay, mượn, thuê hoặc bằng hình thức hợp đồng, sau đó sử dụng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Tội danh này được quy định cụ thể tại Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điểm đặc trưng của tội phạm này là tài sản ban đầu được giao cho người thực hiện hành vi một cách hợp pháp. Ý định chiếm đoạt thường thể hiện trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản hoặc khi phát sinh nghĩa vụ hoàn trả, chứ không nhất thiết đã có ngay từ thời điểm nhận tài sản.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp vay mượn không trả, chậm thanh toán hoặc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đều cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc xác định trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào đầy đủ các dấu hiệu pháp lý và tùy vào chứng cứ của từng vụ việc cụ thể.

2. Các dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.

Đối tượng tác động của tội phạm là tài sản bao gồm vật, tiền.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện bằng các hành vi điển hình sau:

Thứ nhất, sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.

Người phạm tội vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.

Thứ hai, đến thời hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.

Người phạm tội vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng sau đó khi đến thời hạn trả lại tài sản và mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.

Thứ ba, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Người phạm tội vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy cần lưu ý, việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ hợp đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản. Sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý. Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản và muốn chiếm đoạt tài sản thì cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ bị coi là phạm tội nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 4.000.000 đồng trở lên. Đối với tài sản có giá trị dưới 4.000.000  đồng, người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Theo Điều 175 Bộ luật Hình sự, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự và khung hình phạt. Việc xác định giá trị tài sản phải căn cứ vào tài sản thực tế bị chiếm đoạt và chứng cứ trong hồ sơ vụ việc, không chỉ dựa vào số tiền được ghi trong hợp đồng hoặc giấy vay tiền.

Tội phạm hoàn thành từ thời điểm thực hiện một trong các hành vi nêu trên.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự.

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm.

3. Về hình phạt

Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định 04 khung hình phạt như sau:

Khung hình phạt

Điều kiện áp dụng khái quát

Hình phạt

Khoản 1

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp luật định

Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Khoản 2

Phạm tội thuộc các trường hợp định khung tăng nặng, trong đó có chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng

Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Khoản 3

Phạm tội thuộc các trường hợp định khung tăng nặng, trong đó có chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng

Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm

Khoản 4

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500 triệu đồng trở lên

Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm

Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn xem xét tính chất, mức độ hành vi, hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những yếu tố khác theo quy định pháp luật.

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

4. Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tranh chấp dân sự

Đây là vấn đề thường gặp trong các vụ việc vay tiền, mượn tài sản, thuê tài sản hoặc thực hiện hợp đồng kinh doanh.

Không phải cứ vay tiền không trả là phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trên thực tế, người vay có thể mất khả năng thanh toán do hoạt động kinh doanh thua lỗ, mất việc làm, phát sinh khó khăn tài chính hoặc những nguyên nhân khách quan khác.

Trong những trường hợp này, nếu không có các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự, vụ việc có thể được giải quyết theo thủ tục dân sự để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ, hoàn trả tài sản hoặc bồi thường thiệt hại.

Ngược lại, nếu có căn cứ cho thấy người nhận tài sản đã thực hiện hành vi gian dối, bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản, cố tình không trả mặc dù có điều kiện, khả năng trả, hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả theo các điều kiện luật định, vụ việc có thể được xem xét xử lý hình sự.

Việc phân biệt cần dựa trên các yếu tố như:

  • Thời điểm và phương thức nhận tài sản;
  • Mục đích nhận, sử dụng tài sản;
  • Diễn biến thực hiện nghĩa vụ hoàn trả;
  • Khả năng tài chính và hành vi của người có nghĩa vụ;
  • Các tài liệu, tin nhắn, dữ liệu chuyển khoản, hợp đồng và lời khai liên quan.

Cần đặc biệt lưu ý rằng việc chậm trả, né tránh liên lạc hoặc không thực hiện đúng cam kết chỉ là những tình tiết cần xem xét; không thể tách riêng một tình tiết để mặc nhiên kết luận người vay đã phạm tội.

5. Người bị chiếm đoạt tài sản cần làm gì để bảo vệ quyền lợi?

Khi có dấu hiệu bị chiếm đoạt tài sản, người bị thiệt hại nên chủ động thu thập, bảo quản chứng cứ và thực hiện các bước cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Bước 1: Thu thập tài liệu chứng minh việc giao nhận tài sản.

Các tài liệu có thể bao gồm hợp đồng vay, giấy vay tiền, giấy biên nhận, hợp đồng thuê hoặc mượn tài sản, chứng từ chuyển khoản, hóa đơn và những tài liệu khác chứng minh việc giao tài sản.

Bước 2: Lưu giữ chứng cứ thể hiện hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt.

Cần lưu lại tin nhắn, thư điện tử, nội dung trao đổi, thông tin về việc yêu cầu hoàn trả, các cam kết trả nợ, tài liệu thể hiện hành vi gian dối hoặc việc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp nếu có.

Bước 3: Gửi đơn tố giác đến cơ quan có thẩm quyền khi có căn cứ về dấu hiệu tội phạm.

Người bị thiệt hại có thể trình báo hoặc tố giác hành vi có dấu hiệu phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền, kèm theo các tài liệu, chứng cứ hiện có. Nội dung trình bày nên nêu rõ thời gian, địa điểm, phương thức giao nhận tài sản, diễn biến sự việc và yêu cầu xem xét, xử lý theo quy định pháp luật.

Bước 4: Cân nhắc yêu cầu giải quyết tranh chấp dân sự.

Trong trường hợp chưa đủ căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm hoặc bản chất vụ việc là tranh chấp nghĩa vụ hợp đồng, người có quyền lợi bị xâm phạm có thể cân nhắc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu hoàn trả tài sản, trả nợ và giải quyết các nghĩa vụ liên quan.

Việc tố giác tội phạm và khởi kiện dân sự có mục đích, điều kiện và thủ tục khác nhau. Hướng xử lý phù hợp cần được xác định trên cơ sở hồ sơ và tình tiết cụ thể của từng vụ việc.

6. Luật sư tư vấn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Các vụ việc liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thường có diễn biến phức tạp, đặc biệt khi giao dịch được xác lập thông qua giấy viết tay, chuyển khoản ngân hàng, thỏa thuận miệng hoặc hợp đồng kinh doanh.

Việc xác định đúng bản chất vụ việc có ý nghĩa quan trọng đối với cả người bị chiếm đoạt tài sản và người bị tố giác. Nếu đánh giá thiếu căn cứ, người bị thiệt hại có thể lựa chọn phương án xử lý không phù hợp; trong khi đó, người bị tố giác cũng có quyền cung cấp chứng cứ, trình bày ý kiến và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định pháp luật.

Công ty Luật có thể hỗ trợ khách hàng trong các công việc như:

  • Tư vấn dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;
  • Đánh giá hồ sơ, chứng cứ và xác định hướng xử lý phù hợp;
  • Hỗ trợ soạn thảo đơn tố giác tội phạm, văn bản trình bày và tài liệu liên quan;
  • Tư vấn phương án khởi kiện dân sự để yêu cầu hoàn trả tài sản;
  • Hỗ trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trong quá trình giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật.

Nếu đang gặp phải tình huống vay tiền không trả, mượn tài sản rồi chiếm giữ hoặc có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản thông qua hợp đồng, khách hàng nên sớm rà soát hồ sơ, liên hệ với Ldlawyer để trao đổi với luật sư và đánh giá cụ thể, hạn chế rủi ro pháp lý đồng thời lựa chọn phương án bảo vệ quyền lợi phù hợp.

 

Tác giả Luật sư Nguyễn Thị Duyên LDLAWYER
Luật sư Nguyễn Thị Duyên
Luật sư Nguyễn Thị Duyên thường xuyên tư vấn cho khách hàng trong các lĩnh vực dân sự, hình sự, thương mại, thuế, lao động
Đăng ký tư vấn miễn phí

Vui lòng điền các thông tin dưới đây. Chúng tôi sẽ liên hệ lại trong 24h làm việc

  • Hotline tư vấn và hỗ trợ: 0979 18 28 78
zalo LDLAWYER