Tin tức

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra

Luật sư Trần Tiến Lực
0979.18.28.78
Bài viết của Luật sư Trần Tiến Lực đăng trên Tạp chí Luật sư Việt Nam Số 9 (137) Tháng 9-2025
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra LDLAWYER
Luật Lưu Danh trân trọng gửi đến độc giả bài viết "Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra" của Luật sư Trần Tiến Lực - Luật sư điều hành Luật Lưu Danh đăng trên Tạp chí Luật sư Việt Nam Số 9 (137) Tháng 9-2025

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN, NGƯỜI LÀM CÔNG, NGƯỜI HỌC NGHỀ GÂY RA

Tóm tắt: Bộ luật Dân sự 2015 đã có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra. Tuy nhiên, thực tiễn việc áp dụng chế định này chưa có sự thống nhất, nguyên nhân xuất phát từ việc chưa có hướng dẫn cụ thể về cách hiểu “người của pháp nhân” để phân biệt với “người làm công” của pháp nhân. Ngoài ra, cần bổ sung quy định để xác định nghĩa vụ bồi thường của một số chủ thể không có tư cách pháp nhân do người làm công, người học nghề của họ gây thiệt hại khi thực hiện công việc được giao. Bài viết làm rõ các quy định của pháp luật, phân tích những bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện để việc áp dụng pháp luật trên thực tiễn được thống nhất và công bằng.

Từ khóa: Bộ luật Dân sự; Bồi thường thiệt hại; người của pháp nhân; người làm công; pháp nhân.

Abstract: The 2015 Civil Code provides regulations on liability for damages caused by persons affiliated with legal entities, employees, and apprentices. However, in practice, the application of these provisions remains inconsistent. The main reason lies in the absence of specific guidance on the interpretation of the term “persons affiliated with legal entities,” making it difficult to distinguish from “employees” of such entities. Moreover, it is necessary to supplement the law with provisions to determine the liability for damages caused by employees and apprentices of entities without legal person status while performing assigned tasks. This article clarifies the relevant legal provisions, analyzes existing shortcomings, and proposes recommendations for improvement to ensure consistency and fairness in the application of the law in practice.

Keywords: The Civil Code; Compensation for damage; Representative of the legal entity; Employee; Legal entity.

Đặt vấn đề

Theo quy định tại Điều 597 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại (BTTH) do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao và Điều 600 BLDS 2015, cá nhân, pháp nhân phải BTTH do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao. Cả hai điều luật này đều đặt ra chủ thể phải BTTH là pháp nhân, do đó cần phải có căn cứ phân biệt “người của pháp nhân” để áp dụng Điều 597 BLDS 2015 và “người làm công” cho pháp nhân để áp dụng Điều 600 BLDS 2015.

Ngoài ra, vì BLDS 2015 quy định chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân[1] nên Điều 600 BLDS 2015 chỉ quy định hai chủ thể phải BTTH là cá nhân và pháp nhân. Trong thực tiễn, các tổ chức như văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh mặc dù không có tư cách pháp nhân nhưng pháp luật Việt Nam cho phép các tổ chức này được quyền tuyển dụng lao động, mở tài khoản tại Việt Nam, vấn đề phát sinh khi người lao động của họ gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc được giao thì việc xác định chủ thể nào có trách nhiệm BTTH gặp khó khăn do các tổ chức này và chủ sở hữu của họ (các thương nhân nước ngoài hoặc nhà đầu tư nước ngoài) không phải là cá nhân, không có tư cách pháp nhân thì không phải là chủ thể có nghĩa vụ BTTH theo quy định tại Điều 600 BLDS 2015. Những bất cập, vướng mắc nêu trên cần được nghiên cứu và đưa ra giải pháp hoàn thiện.

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO NGƯỜI CỦA PHÁP NHÂN, NGƯỜI LÀM CÔNG, NGƯỜI HỌC NGHỀ GÂY RA

Nguồn: Tạp chí Luật sư Việt Nam

1. Làm rõ các khái niệm

Khi nghiên cứu Điều 597 BLDS 2015 về BTTH ngoài hợp đồng do người của pháp nhân gây ra và Điều 600 BLDS 2015 về BTTH ngoài hợp đồng do người làm công, người học nghề gây ra, cần phải làm rõ các khái niệm sau:

1.1. Khái niệm pháp nhân

Khái niệm “pháp nhân” được BLDS 2015 tiếp cận ở dạng mô tả các dấu hiệu[2]. Theo đó, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện: (1) được thành lập theo quy định của luật; (2) có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 BLDS 2015; (3) có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (4) nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Như vậy, “pháp nhân là một tổ chức thống nhất, độc lập, hợp pháp có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật độc lập”[3]. Pháp nhân tồn tại và hoạt động thông qua hành vi của con người. Các chủ thể có tư cách pháp nhân phổ biến là các loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh.

1.2. Khái niệm người của pháp nhân

Khái niệm “người của pháp nhân” không được pháp luật định nghĩa cụ thể. Trên thực tiễn khái niệm người của pháp nhân đang có hai cách hiểu. Thứ nhất, hiểu theo nghĩa rộng, “người của pháp nhân được hiểu là bất cứ thành viên nào của pháp nhân, được pháp nhân tuyển dụng vào làm việc theo các quan hệ hợp đồng dài hạn, ngắn hạn, đang trong thời gian thử việc”[4]. Theo cách hiểu này, người của pháp nhân bao gồm thành viên, người đại diện theo pháp luật, người quản lý của pháp nhân và cả người làm công, người lao động của pháp nhân mà không phân biệt chức vụ, công việc, loại hợp đồng. Cách hiểu này sẽ dẫn đến việc không có căn cứ để phân biệt người của pháp nhân quy định tại Điều 597 BLDS 2015 và người làm công quy định tại Điều 600 BLDS 2015. Thứ hai, hiểu theo nghĩa hẹp, người của pháp nhân chỉ bao gồm thành viên, người đại diện theo pháp luật và người quản lý khác do điều lệ của pháp nhân quy định, người lao động và những người khác là người làm công cho pháp nhân. “Trước sự không rõ ràng của BLDS, thực tiễn xét xử đã theo hướng hiểu người của pháp nhân theo cách thứ nhất nêu trên”[5].

Tuy nhiên, tác giả cho rằng hiểu khái niệm “người của pháp nhân” theo hướng thứ hai (theo nghĩa hẹp) mới phù hợp. Bởi lẽ, Điều 597 BLDS 2015 sử dụng thuật ngữ “thực hiện nhiệm vụ” là thể hiện tính chất nhiệm vụ, quyền hạn, thường dành cho những người có chức vụ của pháp nhân. Trong khi đó, Điều 600 BLDS 2015 sử dụng thuật ngữ “thực hiện công việc” thể hiện tính chất việc làm đơn thuần của người làm công, người lao động. Ngoài ra, các chủ thể như người đại diện theo pháp luật, thành viên, người quản lý khác do điều lệ của pháp nhân quy định thường có lợi ích gắn liền với pháp nhân hơn so với nhân viên hay người làm công. Với cách hiểu này thì “người của pháp nhân là những người đại diện của pháp nhân không bao gồm người làm công để không có sự trùng lặp với chế định Bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra”[6].

Hiện nay, BLDS 2015 quy định trách nhiệm BTTH do người của pháp nhân gây ra và do người làm công, người học nghề gây ra ở hai điều luật khác nhau. Vì vậy, cách hiểu thứ hai nêu trên sẽ giúp có căn cứ để phân biệt hai điều luật.

1.3. Khái niệm người làm công

Khái niệm “người làm công” cũng không được pháp luật định nghĩa cụ thể. Khoản 5 Điều 3 Luật Việc làm 2013 đề cập đến khái niệm“việc làm công” nhưng chỉ tiếp cận ở phạm vi rất hẹp đó là việc làm tạm thời, được tạo ra thông qua việc thực hiện các dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, phường. “Theo đó, người làm công là người làm công việc tạm thời có trả công trong việc thực hiện các dự án hoặc hoạt động sử dụng vốn nhà nước gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cấp xã”[7].

Quan sát từ thực tiễn, chúng ta nhận thấy khái niệm người làm công cần được hiểu với nội hàm rộng hơn so với hướng tiếp cận của Luật Việc làm 2013, cũng như so với khái niệm người lao động trong pháp luật lao động. “Quan hệ “làm công” không nhất thiết phải là quan hệ hợp đồng lao động”[8], chỉ cần có việc một người được trả tiền để thực hiện một công việc theo yêu cầu, chỉ dẫn của người khác thì quan hệ làm công hình thành mà không phụ thuộc vào tính chất công việc. Như vậy, khái niệm “người làm công” có thể được khái quát như sau: Người làm công là người thực hiện công việc theo yêu cầu, chỉ dẫn của người khác và được trả công.

1.4. Khái niệm người học nghề

BLDS 2015 cũng không có định nghĩa cụ thể khái niệm “người học nghề”. Tuy nhiên, trên cơ sở quy định tại Khoản 1 Điều 61 Bộ luật Lao động 2019 “Học nghề để làm việc cho người sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển người vào để đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc”, từ đó có thể hiểu người học nghề là người được người sử dụng lao động tuyển vào để đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật lao động.

2. Nội dung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra

2.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo lý thuyết chung, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đặt ra khi thỏa mãn ba điều kiện là: (1) có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; (2) có thiệt hại thực tế xảy ra và (3) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại thực tế xảy ra. Với tính chất đặc thù, ba điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra có những đặc trưng sau:

Thứ nhất, về hành vi gây thiệt hại. Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại phải là người của pháp nhân, người làm công hoặc người học nghề, hành vi vi phạm pháp luật đó thuộc bất kỳ lĩnh vực nào như dân sự, hành chính hay hình sự và diễn ra khi những người này đang trong thời gian thực hiện nhiệm vụ, công việc do pháp nhân, người sử dụng người làm công hoặc người dạy nghề giao.

Thứ hai, về thiệt hại thực tế xảy ra. Thiệt hại được bồi thường theo Điều 597 và Điều 600 BLDS 2015 là thiệt hại ngoài hợp đồng của người thứ ba do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra. Cần lưu ý rằng, thiệt hại xuất phát từ việc thực hiện hợp đồng giữa pháp nhân, người thuê làm công, người dạy nghề với khách hàng, đối tác thì giải quyết theo cơ chế BTTH trong hợp đồng, không phải là thiệt hại ngoài hợp đồng được bồi thường theo chế định này.

Thứ ba, về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại thực tế xảy ra. Hành vi trái pháp luật do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề thực hiện là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại và thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề thực hiện trong khi thực hiện nhiệm vụ, công việc được giao.

2.2. Chủ thể có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

Thông thường, người gây thiệt hại là người trực tiếp phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, trách nhiệm BTTH do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra là trường hợp “quy định khác” được nêu tại Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015[9]. Theo đó, chủ thể có trách nhiệm bồi thường không phải người trực tiếp gây ra thiệt hại mà là pháp nhân, người sử dụng người làm công, người dạy nghề, họ phải có trách nhiệm trong việc quản lý đối với những người làm việc vì lợi ích của họ. Hơn nữa, quy định này sẽ bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại “vì thực tế, khả năng bồi thường của người làm công, người học nghề là rất thấp, trong khi đó cá nhân, pháp nhân sử dụng người làm công, người học nghề là những chủ thể có khả năng bồi thường cho người bị thiệt hại hơn”[10]. Cần phải lưu ý rằng, pháp nhân, cá nhân sử dụng người làm công, dạy nghề phải BTTH ngay cả khi họ không có lỗi, đây là trách nhiệm của riêng họ, không phải là trách nhiệm liên đới với người gây thiệt hại. Trường hợp pháp nhân giao nhiệm vụ, cá nhân sử dụng người làm công, dạy nghề cùng với người của mình gây thiệt hại thì áp dụng quy định về BTTH do nhiều người cùng gây ra tại Điều 587 BLDS 2015 mà không áp dụng chế định BTTH do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra.

2.3. Yếu tố lỗi và nghĩa vụ hoàn trả

Khác với BLDS 2005[11], BLDS 2015 đã không còn xem yếu tố lỗi như là một điều kiện bắt buộc để làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Điều 597 và Điều 600 BLDS 2015 đề cập đến yếu tố lỗi với vai trò trong việc xác định nghĩa vụ hoàn trả của người gây thiệt hại đối với người đã thực hiện nghĩa vụ bồi thường. Người gây thiệt hại không phải là chủ thể bồi thường nhưng có nghĩa vụ hoàn trả cho người đã bồi thường một khoản tiền theo quy định của pháp luật, số tiền hoàn trả phụ thuộc vào mức độ lỗi và khả năng thực hiện của người gây thiệt hại.

3. Những bất cập, hạn chế

Tranh chấp về BTTH do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra là loại tranh chấp rất phổ biến, đặc biệt trong các vụ án liên quan đến tai nạn giao thông. Điều 597 và Điều 600 BLDS 2015 cơ bản đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, hai điều luật này vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế cần phải hoàn thiện.

3.1. Bất cập trong việc phân biệt người của pháp nhân và người làm công cho pháp nhân

Điều 597 BLDS 2015 đang tạo ra hai cách hiểu về người của pháp nhân do đó khi áp dụng trên thực tiễn xuất hiện tình trạng cùng một vấn đề pháp lý nhưng các Tòa án áp dụng căn cứ pháp luật khác nhau gây nên sự không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Bất cập này được minh chứng bằng các vụ việc thực tiễn thông qua các bản án dưới đây:

3.1.1. Bản án số 16/2024/HSPT ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai[12]

Tóm tắt nội dung vụ án:

Đoàn Văn S là lái xe làm việc theo hợp đồng lao động cho Công ty TNHH một thành viên vận tải Minh H. S có giấy phép lái xe hợp lệ. Khoảng 19 giờ ngày 26/10/2023, khi điều khiển xe ô tô chở đất cho Công ty Minh H, do không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi ngược chiều khi chuyển hướng nên xe ô tô tải do S điều khiển đã xảy ra va chạm với xe mô tô do anh L điều khiển đang đi ngược chiều đến, chở theo phía sau là anh S1 và anh K. Hậu quả, anh L tử vong, anh S1 bị tổn thương cơ thể 45% và anh K bị tổn thương cơ thể 24%, làm hư hỏng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda. Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã quyết định, về trách nhiệm dân sự buộc Công ty Minh H phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại.

Công ty Minh H kháng cáo phần trách nhiệm dân sự. Tại Bản án phúc thẩm số 16/2024/HSPT ngày 24/6/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai nhận định:

“Xét thấy, bị cáo Đoàn Văn S là người lao động làm việc cho Công ty TNHH một thành viên vận tải Minh H theo Hợp đồng lao động số 01QL/2023/HĐLĐ ngày 02/01/2023. Ngày 26/10/2023, bị cáo S được Công ty giao nhiệm vụ điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 24H-010.07 của Công ty chở đất từ công trường đang thi công thuộc tiểu khu đô thị số 5, tổ 31, phường Bắc Cường, thành phố Lào Cai, đi đổ đất tại khu vực B9, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai. Quá trình thực hiện công việc, bị cáo S đã vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ khi xin chuyển hướng xe, dẫn đến tai nạn giao thông, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản cho các bị hại.

Điều 597 Bộ luật dân sự quy định: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao” Bị cáo Đoàn Văn S với tư cách là người lao động làm việc cho Công ty TNHH một thành viên vận tải Minh H đã gây ra thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được Công ty giao nên theo quy định tại Điều 597 Bộ luật dân sự, Công ty TNHH một thành viên vận tải Minh H là chủ thể có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại”.

Từ đó, Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai không chấp nhận kháng cáo của Công ty Minh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Hướng áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai

Trong vụ án này, Tòa án xác định S với tư cách là người lao động của pháp nhân Minh H, đã gây ra thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân Minh H giao nên áp dụng Điều 597 BLDS 2015 về BTTH do người của pháp nhân gây ra để buộc pháp nhân Minh H là chủ thể có trách nhiệm BTTH cho các bị hại.

Tuy nhiên, với tình huống pháp lý tương tự, bản án sau đây, Tòa án nhân TP. Hà Nội lại có hướng áp dụng pháp luật khác so với hướng của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

3.1.2. Bản án số 397/2022/HS-PT ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân TP. Hà Nội[13]

Tóm tắt nội dung vụ án:

Lê Chí D là lái xe cho Công ty TNHH Việt P theo Hợp đồng lao động ký kết ngày 01/01/2019. D có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ. Khoảng 21 giờ ngày 04/12/2019, D điều khiển xe ô tô của Công ty Việt P đi lấp cát, do đi ngược chiều vào phần đường, làn đường theo hướng di chuyển của xe ô tô thuộc sở hữu của anh N do anh T điều khiển đi chiều ngược lại nên gây tai nạn, hậu quả 02 xe ô tô bị hư hỏng, anh T bị thương.

Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2021/HSST ngày 12/11/2021 Tòa án nhân dân quận Long Biên, TP. Hà Nội đã quyết định, về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản Điều 601; Điều 585; Điều 600 BLDS 2015; khoản 1 Điều 7, Điều 13 Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16/9/2008; Thông tư số 22/2016/TT-BTC ngày 16/02/2016 của Bộ Tài chính, tuyên xử: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H bồi thường cho anh N; Tổng Công ty bảo hiểm bưu điện (PTI) phải BTTH cho anh N; Công ty TNHH Việt P phải bồi thường cho anh N. Giành cho Công ty TNHH Việt P quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo D hoàn trả số tiền Công ty TNHH Việt P đã bồi thường cho anh N theo quy định của pháp luật.

Công ty TNHH Việt P kháng cáo phần BTTH. Tuy nhiên, tại Bản án phúc thẩm số 397/2022/HS-PT ngày 05/5/2022, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Việt P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Hướng áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân TP. Hà Nội

Trong vụ án này, D cũng với tư cách là người lao động, làm việc cho pháp nhân Việt P đã gây ra thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân Việt P giao nhưng Tòa án đã áp dụng Điều 600 BLDS 2015 về BTTH do người làm công, người học nghề gây ra để buộc pháp nhân Việt P có trách nhiệm BTTH cho bị hại.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc do pháp nhân giao, một số Tòa án khác cũng theo hướng áp dụng Điều 600 BLDS 2015 về BTTH do người làm công, người học nghề gây ra mà không áp dụng Điều 597 BLDS 2015 về BTTH do người của pháp nhân gây ra[14].

Liên quan đến việc áp dụng Điều 597 hay Điều 600 BLDS 2015, bản án sau đây của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ lại có hướng áp dụng pháp luật thứ ba khác với hướng áp dụng pháp luật của cả Tòa án nhân tỉnh Lào Cai và Tòa án nhân dân TP. Hà Nội.

3.1.3. Bản án 31/2025/DS-PT ngày 03/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ[15]

Tóm tắt nội dung vụ án:

Anh S là thuyền trưởng, lái tàu cho Công ty Cổ phần T4. Ngày 07/9/2019, khi đang điều khiển tàu chở than của Công ty T4, anh S đã vi phạm luật giao thông đường thủy nội địa dẫn đến va chạm với tàu của anh Q khiến tàu của anh Q bị thủng và chìm mất 260m³ cát. Tại Bản án sơ thẩm số 22/2024/DS-ST ngày 30/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã căn cứ các Điều 584, 585, 589, 597, 600 BLDS 2015 tuyên xử buộc Công ty Cổ phần T4 phải BTTH cho anh Q.

Công ty Cổ phần T4 kháng cáo. Tuy nhiên, tại Bản án phúc thẩm số 31/2025/DS-PT ngày 03/4/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Hướng áp dụng pháp luật của Tòa án tỉnh Phú Thọ

Trong vụ án này, anh S cũng có vai trò là người lao động của pháp nhân T4. Tuy nhiên, Tòa án không phân biệt anh S là người của pháp nhân hay là người làm công cho pháp nhân mà áp dụng cả Điều 597 BLDS 2015 về BTTH do người của pháp nhân gây ra và Điều 600 BLDS 2015 về BTTH do người làm công gây ra để giải quyết vụ án. Tại một bản án năm 2020, Tòa án nhân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang cũng theo hướng áp dụng cả Điều 597 và Điều 600 BLDS 2015[16].

Như vậy, trên thực tiễn việc áp dụng pháp luật làm căn cứ giải quyết các tranh chấp về BTTH do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra của Tòa án đang thiếu thống nhất. Cùng một vấn đề pháp lý là người lao động của pháp nhân gây thiệt hại, có Tòa án theo hướng xác định người lao động là người của pháp nhân để áp dụng Điều 597 BLDS 2015, có Tòa án theo hướng người lao động là người làm công cho pháp nhân để áp dụng Điều 600 BLDS 2015. Đặc biệt, có Tòa án không phân biệt người lao động là người của pháp nhân hay là người làm công của pháp nhân mà áp dụng cả Điều 597 và Điều 600 BLDS 2015 để giải quyết. Bất cập này phản ánh sự trùng lặp, chưa rõ ràng trong cách hiểu hai điều luật, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật và cần được Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết.

3.2. Hạn chế trong việc thiếu chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra

Điều 622 BLDS 2005 quy định “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra…”. Điều 600 BLDS 2015 đã có sự thay đổi khi bỏ cụm từ “các chủ thể khác” và quy định “Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra…”. Theo đó, chủ thể có trách nhiệm BTTH chỉ là cá nhân hoặc pháp nhân. Nguyên nhân của sự thay đổi này xuất phát từ việc BLDS 2015 chỉ coi cá nhân, pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Khi người làm công, người học nghề của các chủ thể không có tư cách pháp nhân như doanh nghiệp tư nhân; chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của pháp nhân mà gây thiệt hại thì trách nhiệm được quy về cho cá nhân hoặc pháp nhân là chủ sở hữu của những chủ thể đó.

Tuy nhiên, thực tiễn vẫn có một số chủ thể mặc dù không có tư cách pháp nhân nhưng có tài sản riêng, có thuê mướn lao động, chủ sở hữu của những chủ thể này cũng không có tư cách pháp nhân. Cụ thể, (1) theo Điều 16, Điều 17, Điều 19 Luật Thương mại 2005, thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận và được đặt văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam, văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài được tuyển dụng lao động, được mở tài khoản tại Việt Nam; (2) theo khoản 14, khoản 19, Điều 3 và Điều 49 Luật Đầu tư 2020, nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm theo quy định của pháp luật mà không thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng BCC được thành lập văn phòng điều hành tại Việt Nam để thực hiện hợp đồng, mở tài khoản, tuyển dụng lao động.

Như vậy, khi người lao động của văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài theo hợp đồng BCC gây thiệt hại thì cần có căn cứ để xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường. Nếu như người làm công, người học nghề của chi nhánh, văn phòng đại diện của pháp nhân gây thiệt hại thì pháp nhân là chủ thể có trách nhiệm phải bồi thường là điều không phải bàn cãi. Tuy nhiên, đối với văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài theo hợp đồng BCC thì việc xác định chủ thể có trách nhiệm BTTH gặp khó khăn do bản thân các tổ chức này và chủ sở hữu của họ là các thương nhân nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài không có tư cách pháp nhân thì không phải là chủ thể có nghĩa vụ bồi thường theo Điều 600 BLDS 2015.

4. Kiến nghị hoàn thiện

Từ việc nhận diện, phân tích các bất cập nêu trên, tác giả đưa ra các kiến nghị sau đây để hoàn thiện pháp luật về chế định BTTH do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra.  

4.1. Thống nhất cách hiểu về người của pháp nhân

Để giải quyết sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng chế định về BTTH do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra cần có căn cứ phân biệt người của pháp nhân để áp dụng Điều 597 BLDS 2015 và người làm công cho pháp nhân để áp dụng Điều 600 BLDS 2015. Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đã không hướng dẫn hai điều luật này. Do vấn đề về cách hiểu, nên không cần thiết phải sửa đổi quy định tại BLDS 2015, Tòa án nhân tối cao cần ban hành nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 597 BLDS 2015 như sau:

Về BTTH do người của pháp nhân gây ra quy định tại Điều 597 Bộ luật Dân sự

1. Người của pháp nhân gồm: Thành viên hoặc cổ đông của pháp nhân; người đại diện theo pháp luật của pháp nhân và những người quản lý khác do điều lệ của pháp nhân quy định tại thời điểm thiệt hại xảy ra.

2. Người lao động và những người khác không thuộc khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại trong khi thực hiện công việc do pháp nhân giao thì áp dụng quy định tại Điều 600 Bộ luật Dân sự để giải quyết”.

4.2. Kiến nghị về hoàn thiện quy định tại Điều 600 Bộ luật Dân sự theo hướng bổ sung các chủ thể khác có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Chủ thể có trách nhiệm BTTH và chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là hai khái niệm không đồng nhất với nhau, việc quy định “các chủ thể khác” ngoài cá nhân, pháp nhân có trách nhiệm BTTH không làm mất đi bản chất của nội dung chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân. Bổ sung thêm “các chủ thể khác” có nghĩa vụ BTTH ngoài cá nhân, pháp nhân giúp khỏa lấp thiếu sót tại Điều 600 BLDS 2015.

Do việc quy định thêm chủ thể có nghĩa vụ BTTH sẽ dẫn đến phát sinh trách nhiệm pháp lý cho chủ thể mới nên tác giả kiến nghị sửa đổi trực tiếp Điều 600 BLDS 2015 như sau:

Điều 600. Bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra

Cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Luật sư Trần Tiến Lực

Khi sử dụng bài viết vui lòng trích dẫn đầy đủ và dẫn nguồn Tạp chí Luật sư Việt Nam

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận án, Tập 2, Nxb Hồng Đức, 2022 (xuất bản lần thứ năm).
  2. Nguyễn Phi Hùng, Pháp nhân theo Bộ luật Dân sự năm 2015: Bất cập và định hướng hoàn thiện, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/phap-nhan-theo-bo-luat-dan-su-nam-2015-bat-cap-va-dinh-huong-hoan-thien1653234162-a119067.html, truy cập ngày 05/05/2025.
  3. Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ, Bình luận khoa học BLDS 2015, Nxb. Công an nhân dân, 2017.
  4. Nguyễn Văn Lâm, Bàn về trách nhiệm dân sự của pháp nhân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, https://danchuphapluat.vn/ban-ve-trach-nhiem-dan-su-cua-phap-nhan, truy cập ngày 05/05/2025.
  5. Trần Thị Anh Thư, Bàn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người làm công gây ra, Tạp chí Tòa án điện tử, https://tapchitoaan.vn/ban-ve-boi-thuong-thiet-hai-ngoai-hop-dong-do-nguoi-lam-cong-gay-ra5817.html, truy cập ngày 05/05/2025.
  6. Bản án số 02/2019/HS-ST ngày 22/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta248146t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/05/2025.
  7. Bản án số 16/2024/HSPT ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1510544t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/05/2025.
  8. Bản án số 21/2021/DS-PT ngày 24/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta658326t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/05/2025.
  9. Bản án 31/2025/DS-PT ngày 03/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1772698t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/5/2025.
  10. Bản án số 397/2022/HS-PT ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân TP. Hà Nội, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1019053t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/05/2025.
  11. Bản án số 40/2020/DS-ST ngày 13/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta642184t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/05/2025.

[1] Điều 1 BLDS 2015:

“Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”.

[2] Điều 74 BLDS 2015.

[3] Nguyễn Phi Hùng, Pháp nhân theo Bộ luật Dân sự năm 2015: Bất cập và định hướng hoàn thiện, https://lsvn.vn/phap-nhan-theo-bo-luat-dan-su-nam-2015-bat-cap-va-dinh-huong-hoan-thien1653234162-a119067.html, truy cập ngày 05/05/2025.

[4] Nguyễn Văn Lâm, Bàn về trách nhiệm dân sự của pháp nhân, https://danchuphapluat.vn/ban-ve-trach-nhiem-dan-su-cua-phap-nhan, truy cập ngày 05/05/2025.

[5] Đỗ văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận án, Tập 2, tr.99,100, Nxb Hồng Đức, 2022.

[6] Đỗ văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận án, Tập 2, tr.99, Nxb Hồng Đức, 2022.

[7] Trần Thị Anh Thư, Bàn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người làm công gây ra, https://tapchitoaan.vn/ban-ve-boi-thuong-thiet-hai-ngoai-hop-dong-do-nguoi-lam-cong-gay-ra5817.html, truy cập ngày 05/05/2025.

[8] Đỗ văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận án, Tập 2, tr.131, Nxb Hồng Đức, 2022.

[9] Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.

[10] Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ: Bình luận khoa học BLDS 2015, Nxb. Công an nhân dân 2017, tr. 904.

[11] Khoản 1 Điều 604 BLDS 2005: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

[14] Xem Bản án số 02/2019/HS-ST ngày 22/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa tại https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta248146t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/05/2025 và Bản án số 21/2021/DS-PT ngày 24/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang tại https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta658326t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/05/2025.

[16] Xem bản án số 40/2020/DS-ST ngày 13/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tại https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta642184t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 05/05/2025.

 

Tác giả Luật sư Trần Tiến Lực LDLAWYER
Luật sư Trần Tiến Lực
Luật sư Trần Tiến Lực là luật sư giàu kinh nghiệm, có tư duy pháp lý sắc bén, thường xuyên tư vấn và tham gia tố tụng trong nhiều vụ án
Bài viết tin tức khác
zalo LDLAWYER